Home » Tiểu Luận » Tiểu luận: V.S. Võ Đình Hiếu – 2017

Tiểu luận: V.S. Võ Đình Hiếu – 2017

MÔN PHÁI – VOVINAM -VIETVODAO
Kỳ thi Cao đẳng năm 2017
Thí sinh : Võ Đình Hiếu
Đơn vị : 31 Sư Vạn Hạnh Q 10 , Tphcm

Tiểu luận : chấn thương trong tập luyện , nắn chỉnh cơ xương khớp và day bấm huyệt chữa bệnh theo đông y
Chấn thương trong tập luyện võ thuật
Điều quan trọng cho mọi vận động viên hay người tập luyện võ thuật muốn có được sức khỏe để tập luyện quanh năm , đây chính là yếu tố quan trọng góp phần vào sự thành công của một người vận động viên ( vđv) hay người tập luyện võ thuật. Khi bị chấn thương , quá trình tập luyện sẽ bị giáng đoạn và tạo cho vđv hay người tập luyện có nổi sợ hãi không theo đuổi được sự đam mê của mình.
Một số các chấn thương như bầm dập ,dây chằng hay bông gân có thể phòng ngừa được nếu vđv HLV hiểu được nguyên nhân của việc chấn thương, HLV là những người cần có được những kiến thức về cơ xương khớp để tư vấn cho vđv thăm khám bác sĩ chuyên khoa một cách hiệu quả khi bị chấn thương
Các loại chấn thương thường gặp trong tập luyện võ thuật và thi đấu
1. Vết bầm
Nguyên nhân là do sự va chạm mạnh , đột ngột lên phần mềm cơ thể với một vật thể cưng . Vd : khi đá mu bàn chân trúng vào khuỷu tay đối phương có thể gây ra vết bầm trên mu bàn chân. Trong hầu hết các trường hợp,da không rách , có thể trầy xước. Sẽ xuất hiện hiện tượng sưng ,và tùy theo mức độ của vết bầm, nếu có hiện tượng xuất huyết dưới da thì sẽ xảy ra nhanh hơn. Cũng tùy theo mức độ chấn thương nặng hay nhẹ
2 . Bong gân , sai khớp
Bong gân là một chấn thương của day chằng ở một khớp, có nhiều mức độ bong gân khác nhau , từ bong gân nhẹ do sự kéo căng khớp quá mức , đến trật khớp hoàn toàn. Các triệu chứng biến đổi tùy theo mức độ chấn thương, từ đau nhức,sưng phù, mất chức năng hoạt động đến trật khớp, đức dây chằng hoàn toàn , các khớp cổ chân, khớp cổ tay, khớp vai, là thí dụ rất dễ bong gân va sai khớp.
Bong gân và sai khớp là những chấn thương thường gặp trong tập luyện và thi đấu trong võ thuật . Đây là những chấn thương thường gặp và phổ biến nhất của vđv tập luyện thi đấu thành tích cao trong thể thao.
3. Đức gân , cơ
Là hiện tượng một sợi cơ hay gân bị đức . Chấn thương xảy ra do một sự kéo căng mạnh đột ngột quá sức sợi cơ hay sợi gân , kết quả là các mô bị đứt một phần hay toàn bộ. Đặc biệt là sự co cơ quá mạnh có thể gay ra sự đứt gân hoàn toàn. Đây là chấn thương thường xảy ra khi vđv không khởi động đầy đủ, không thực hiện các bài tập căng cơ thích hợp, đặt biệt khi nhiệt độ môi trường bên ngoài thấp. Mức độ chấn thương có thể biến đổi từ nhẹ bị giãn vài sợi cơ, đến mức độ nặng, đứt một phần hay toàn bộ sợi cơ hay gân . Triệu chứng thường gặp nhất là đau nhức. Trong trường hợp đứt một phần hay toàn bộ sợi cơ ,gân thì xuất hiện sưng phù . Điểm nối tiếp sợi cơ và gân rất nhạy cảm với loại chấn thương này, vì các điểm này thường có ít các mạch máu cung cấp máu cho mô . Chấn thươnng này thường lập đi lập lại và trở thành mãn tính.
4.Viêm gân – viêm bao hoạt dịch
Bao hoạt dịch là các túi chứa dịch lỏng nằm giữa các gân dây chằng xương …. Nhằm tiếc ra các chất dịch có chức năng bôi trơn, làm giảm ma sát trong các chuyển động ở ổ khớp. Các cấu trúc này có thể bị viêm chủ yếu là do các chuyển động không đúng hay việc lạm dụng hoạt động của các khớp . Khi bị viêm nặng, thời gian chữa trị kéo rất dài. Triệu chứng viêm gân , viêm bao hoạt dịch bao gồm: đau sưng, sức mạnh giảm đáng kể.
Cho dù viêm gân và dây chằng được ghi nhận trong hoạt động tập luyện và thi đấu võ thuật, nhưng vẫn chưa có bất kỳ kết luận rõ ràng về tỉ lệ chính xác của loại chấn thương này thường xảy ra trong võ thuật,vì các yêu cầu hoạt động trong võ thuật tạo ra rất nhiều áp lực lên các sợi gân , có thể dẫn đến viêm gân​ và viêm bao hoạt dịch. Trong tập luyện, hiện tượng viêm gân có thể xuất hiện ở các gân nhóm cơ duỗi của ngón tay, khớp gối, khớp, khuỷu tay …vv . Thí dụ : trong vovinam bay đòn chân kẹp cổ ,khớp gối rất dễ bị viêm khi cường độ tập quá sức.
5. Gãy xương
Gãy xương là chấn thương xảy ra trong cả tập luyện và thi đấu võ thuật. Thực tế thi đấu võ thuật rất hay xảy ra gãy xương có nhiều trường hợp gãy xương không thể phát hiện nếu không chụp x quang sau trận đấu…
Gãy xương ngón tay,bàn chân, bàn tay,cánh tay…vv trong thi đấu và tập luyện võ thuật. Gãy xương phần ngón tay, bàn tay trong tập luyện và thi võ thuật là do vđv không nắm chặt bàn tay khi đỡ những cú đá của đối phương va chạm vào khớp ngón tay, gãy cánh tay là do vđv không té đúng kỹ thuật khi bị đối phương đánh ngã gãy xương bàn chân thường do vđv đá quá mạnh vào phần cứng của đối phương (đầu gối, chỏ)
6. Đau nhức cơ
Đau nhức cơ sau tập luyện là một dấu hiệu của việc tập luyện quá sức. Nếu sự đau nhức cơ xuất hiện sau buổi tập, có thể buổi tập đó có cường độ quá lớn. Đau nhức cơ là kết quả của các chất phóng tích bởi các tế bào bị phá hủy trong các sợi cơ. Đau nhức cơ thương xảy ra với người mới tatập luyện, thời gian bắt đầu một chu kỳ tập luyện mới ( ở mọi trình độ tập luyện), buổi tập có cường độ quá lớn và thời gian quá dài, khi bắt đầu các bài tập mới khác nhau vv, và khi vđv bị cảm cúm. Khi vđv cảm thấy đau nhức cơ , lượng vận động trong buổi tập tớt nên giảm đi để cơ thể có thể điều chỉnh dần với việc tăng lượng vận động. Mức độ đau nhức cơ thường đạt đến tối đa trong ngày thứ hai hay thứ ba, sau đó mức độ đau sẽ giảm xuống. Trong những ngày đau nhức này , nên tập với lượng vận động nhẹ, đồng thời chú trọng các bài tập khởi động và căng cơ.

I. NGUYÊN NHÂN VÀ PHƯƠNG PHÁP PHÒNG NGỪA
Đa số các trường hợp chấn thương trong tập luyện và thi đấu Võ đều do hai nguyên nhân chính là nguyên nhân bên trong và bên ngoài gây trên. Trong đó sự va chạm bên ngoài là tác nhân chính là nguyên nhân bên trong là điều kiện phụ trợ làm xuất hiện chấn thương.

1. Các nguyên nhân bên ngoài
1. Do sai lầm trong phương pháp giảng dạy của huấn luyện viên hoặc giáo viên, chủ yếu do không áp dụng đúng các nguyên tắc huấn luyện cơ bảng như : tập luyện vừa sức , thường xuyên liên tục ,tăng tiến
1. Do thiếu xót trong việc tổ chức tập luyện và thi đấu, chủ yếu do sự bất hợp lí trong cấu trúc bài tập cũng như sự thiếu khoa học trong việc sắp xếp chương trình thi đấu và sự vi phạm cơ bản những nguyên tắc, kế hoạch đã đề ra.
− Do không đáp ứng và đảm bảo các yêu cầu về vật chất, kỹ thuật trong tập luyện và thi đấu như các yêu cầu về sân bãi, đặc biệt là các trang thiết bị bảo hiểm của võ thuật.
− Do các yêu cầu về khí hậu , điều kiện vệ sinh không đảm bảo như dụng cụ thi đấu không được vệ sinh sạch sẽ , phong tập thiếu ánh sáng , thông gió kém .
− Do bản thân vận động viên có hành vi không dung đắn như vội vàng , thiếu sự tập trung chú ý ,ý chức tổ chức kỷ luật kém .
− Do không tuân thủ những yêu cầu về y tế như khám sức khoẻ thường kỳ hoặc trước mỗi cuộc đấu. Không tuân thủ chỉ dẫn của bác sĩ .
2. Các nguyên nhân bên trong
− Do những đặc điểm bẩm sinh của vận động viên hay những biển đổi về trạng thái chức năng và cấu trúc cơ thể dưới hình ảnh của các tác nhân bên ngoài không phù hợp
− Do những rối loạn về khả năng định hình trong không gian và sự giảm sút các phản ững bảo vệ, sức tập chung chú ý của vận động viên, chủ yếu là do mệt mỏi quá mức gây ra rối loạn về cảm giác và khả năng phối hợp vận động.
− Do những thay đổi về trạng thái chức năng của một hệ cơ quan sau giai đoạn nghỉ tập (trong thời kì này huấn luyện viên phải tuân thủ nghiêm ngặt chỉ định của bác sĩ)
− Do cấu trúc giải phẫu của cơ thể không phù hợp với yêu cầu kĩ thuật.
3. Phương pháp phòng ngừa chấn thương
− Để ngăn ngừa các chấn thương trong tập luyện và thi đấu Võ Thuật ,các huấn luyện viên cần thực hiện tốt các nội dung sau:
− Tăng cường công tác huấn luyện viên thể lực nhằm phát triển toàn diện cả bốn tố chất
− Cho khởi động kĩ trước khi tập luyện và thi đấu .
− Tập trung cao độ trong suốt quá trình huấn luyện và thi đấu.
− Tuân thủ nghiêm ngặt các điều luật , điều lệ thi đấu …

II. PHƯƠNG PHÁP SƠ CỨU CÁC CHẤN THƯƠNG THƯỜNG GẶP:

Do trong cấp cứu ban đầu không cho phép huấn luyện viên, giáo viên phạm phải những sai lầm dù là nhỏ nhất cho nên càng phải tuân thủ nghiêm ngặt những nguyên tắc sau:

Đối với chấn thương nặng thì không được hấp tấp di chuyển nạn nhân khi không thật sự cần thiết, đặc biệt với các chấn thương cột sống

Người cấp cứu phai nhanh nhẹn nhưng bình tĩnh trong từng trường hợp để lựa chọn các phương pháp cấp cứu hợp lý. Phải có thái độ ôn hoà, nhã nhặn, thân mật khi thực hiện nhiệm vụ của mình.

Nếu chấn thương chảy máu cần phải lập tức tiến hành ngay việc cầm máu bằng phương pháp nhanh nhất (bấm huyệt, băng tạm…).

Đối với chấn thương nặng như ngừng tim, ngừng thở phải hết sức nhanh chóng cấp cứu. neu khong thì sẽ dẫn đến tử vong sau vài phút. Nếu nạn nhân bất tỉnh thì tuyệt đối không được thô bạo đánh thức nạn nhân dậy vì điều này sẽ dẫn đến sự hôn mê bất tỉnh sâu hơn. Lúc này tuyệt đối không được cho nạn nhân ăn uống vì việc đó có thể dẫn đến sẽ làm tắt đường hô hấp.

Cần nhanh chóng tiến hành: nới lỏng bớt dây đai, thắng lưng quần áo và xác định mức độ chấn thương (tim mạch, hơi thở, chảy máu, gãy xương, trật khớp,…) để có những phương pháp cấp cứu thích hợp.

Sau khi giúp nạn nhân qua khỏi sự nguy kịch, nếu cần thiết có thể đưua nạn nhân vào viện nhưng phải bàn giao đầy đủ nguyên nhân, trạng thái, diễn biến của chấn thương cũng như thời gian, địa điểm và các phương pháp đã qua xử lý.

1. Cấp cứu đối với bệnh choáng:
Choáng (shock) là tình trạng bệnh lý do tổn thương nặng hay một thủ thuật ngoại khoa nào đó gây ra được biểu hiện bằng sự rối loạn và suy sụp của hệ thần kinh, tuần hoàn, chuyển hoá cũng như các cơ quan chức năng khác trong cơ thể do nhiều nguyên nhân khác nhau.
• Triệu chứng:
Bệnh nhân mệt lã, gần như bất động, thờ ơ với bên ngoài, sắc mặt nhạt, da tái, chân tay lạnh,, nhiệt độ giảm, mạch nhỏ và nhanh, huyết áp hạ, nạn nhân thở nhanh và nông, mất tri giác, có triệu chứng thần kinh thực vật, mồ hôi nhiều, rét run và đồng tử có thể giãn to.
• Phương pháp chữa trị:
− Đối với chứng choáng (Shock) thì việc cấp cứu cần phải tiến hành nhanh và toàn diện như sau:
− Băng bó nhẹ nhàng và cố định ở các khớp hoặc chỗ gãy xương.
− Cầm máu tạm thời nếu bị chảy máu.
− Chống ngạt thở (nếu có), cho nạn nhân nằm nghiêng hoặc ngồi, nếu thấy tắt thở phải làm hô hấp nhân tạo.
− Ấn vào các huyệt Nhân Trung, Thái Dương, Hợp Cốc, Bách Hội.

2. Cấp cứu khi chảy máu:
− Chảy máu là sự tràn máu từ trong mạch qua thành mạch bị tổn thương ra ngoài. Trong tập luyện và thi đấu Võ cổ truyền thông thường vận động viên hay bị chảy máu mũi hoặc ở những chỗ thường xuyên bị va chạm như vùng mạch.
− Chảy máu mũi: Đây là trường hợp xảy ra trong khi đối kháng giữa các vận động viên do niêm mạc mũi rất dễ chảy máu, mà đây lại là cơ quan có nhiều mạch máu, mạng lưới mao mạch.
• Phương pháp cấp cứu:
Bình tĩnh dùng hai đầu ngón tai và ngón trỏ bóp và rìa 2 cánh mũi làm cho đường mạch dẫn mấu đến mũi bị đè bẹp và máu không chảy nữa rồi lấy bông để nhét vào hốc mũi kết hợp với chườm lạnh dọc theo sống mũi. Tiếp theo dùng ngón tay cái ấn vào một số huyệt đạo trên cơ thể như Thái Dương, Nghinh Hương, Hợp Cốc với mức độ vừa phải và hơi day nhẹ.
• Chảy máu động mạch và tĩnh mạch
Chảy máu động mạch: Khi chấn thương ở động mạch máu sẽ chảy dữ dội và phun thành các tia hoặc các dòng lớn.Nếu buộc chặt phần trên để máu không dồn xuống vết thương thì máu sẽ không chuyển được xuống các cơ quan dưới đó.Nạn nhân khi bị chảy máu động mạch thường rất mệt mỏi,da tái và nếu mất máu nhiều sẽ rất dễ dẫn đến tử vong.
Phương pháp tốt nhất để cấp cứu trong trường hợp này là ngay lập tức đè chặt vào động mạch và buộc băng hoặc garô(nếu có thể) tạm thời vào vết thương để cầm máu.
Chảy máu tĩnh mạch:Khi cơ thể bị chảy máu tĩnh mạch thì ta có thể nhận biết được vì máu ở tĩnh mạch có màu đỏ thẫm và chảy ra với khối lượng tương đối lớn.
Khi xảy ra chảy máu tĩnh mạch phương pháp hữu hiệu và đạt hiệu quả cao là phương pháp garô hoặc băng bó nếu nhẹ hơn.Dây garô là một băng cao su to bản rộng khoảng 4cm đối với chi trên và 6cm đối với chi dưới.
Nếu không có bgarô chuyên dụng có thể thay thế bằng đai mềm,khăn mặt,mùi xoa,băng y tế…để buộc chặt vết thương rồi dùng que xoắn chặt.

3. Cấp cứu khi ngừng tim,ngừng thở
Trong tập luyện và thi đấu Võ thuật, do tác động của các đòn đấm, đá mạnh vào các huyệt,vào đầu,hầu hoặc cái động tác quăng quật,…có thể làm vận dộng viện xuất hiện triệu chứng tạm thời ngưng tim,ngưng thở.Đây là trường hợp nghiêm trọng và khi xảy ra nạn nhân sẽ cảm thấy khó thở,hoặc thở không có quy luật(lúc nhanh,lúc chậm)mặt tím tái,các niêm mạc cũng tím.Nếu khó thở kéo dài sẽ làm nạn nhân mất tri giác và nếu ngưng thở sẽ thiếu ôxy có thể dẫn đến tử vong nếu không được cấp cứu kịp thời.

Để cấp cứu phải bình tĩnh và nhanh nhẹn kiểm tra một cách chắc chắn xem nạn nhân có còn thở hay không bằng cách đưa ra một sợi bông sát lỗ mũi nạn nhân đồng thời áp tai vào ngực trái xem tim có con đập không.

Nếu nạn nhân có ngừng thở phải lập tức xỗ mạnh vào lưng,vào ngực(gây kích thích) rồi cở bớt quần áo ra và tiến hành hô hấp nhân tạo.

• Hô hấp nhân tạo.
Đặt nạn nhân nằm ngửa và nhanh chóng ưỡn cổ nạn nhân ra tối đa bằng cách dùng một tay ấn trán,một tay nâng gáy để cổ nạn nhân ngửa ra,tránh gây tụt lưỡi tắc đường hô hấp,tay giữ trán lấy phần cẳng tay để đè phần trán,các ngón tay bịt chặt mũi,còn tay đỡ cổ thì đỡ bằng phần cẳng tay,các ngón tay và bàn tay vòng ra sau gáy để kéo và nâng hàm nạn nhân sao cho miệng nạn nhân há ra.

Hít mooth hơi thật sâu rồi thổi mạnh hơi đó vào miệng nạn nhân,bỏ tay bịt mũi ra và ngẩng lên hít sâu để lấy hơi làm tiếp nhịp khác.Thực hiện khoảng 220 nhịp/phút.

Với trẻ em cũng làm như vậy nhưng phải hạn chế hơi để tránh gây vỡ phế nang. Sau 5-10 phút hô hấp nếu có hiệu quả thì da sẽ hồng lên và phải duy trì tiếp tục 20-25 phút để nạn nhân thở trở lại.Khi hô hấp cứ thổi 4-5 lầng thì có thể dừng lại vỗ vào ngực và lưng và lại thổi tiếp.

• Ép tim ngoài lồng ngực.
Đặt nạn nhân nằm ngửa trên một ván cứng hoặc trên sàn phẳng và thoáng mát.Người cấp cứu quỳ một bên,hai bàn tay chồng lên nhau rồi áp lên ngực,hơi chệch sang trái xương ức(mỏ ác).Ấn lên ngực nạn nhân và nhả tay ra ngay(từ 60-70 lần/phút).Cứ như vậy thực hiện khoảng 3-5 phút tim sẽ đập trởi lại.Lúc này người cấp cứu phải tiếp tục duy trì từ 20-25 phút kết hợp với hô hấp nhân tạo ấn 4 nhịp lại thổi 1 hơi và dùng lực ép vừa phhair phù hợp với nạn nhân.
4. Cấp cứu khi bất tỉnh
Bất tỉnh là trường hợp nạn nhân rơi vào trạng thái bất động,mất cảm giác,tri thức…do tác động của các đòn đánh mạnh vào mặt ,bụng,sườn,các huyệt vị.Lúc này mặt nạn nhân sẽ mất sắc,môi nhạt,người lạnh.
• Phương pháp cấp cứu:
Sau khi đã kiểm tra sơ bộ về xương, tim mạch, hơi thở có thể cấp cứu nạn nhân bằng cách bấm vào 1 số huyệt trên cơ thể như Dũng Tuyền, Hợp Cốc, Nội Quan, Nhân Trung, Bách Hội, Đại Tuỳ. Cũng có thể dùng nước lạnh để tạt vào mặt hoặc gọi lớn tên để lay nạn nhân dậy.

5. Cấp cứu khi gãy xương:
Gãy xương là một tổn thương nặng, phá vỡ cấu trúc giải phẩu bình thường của xương dưới tác động trực tiếp hay gián tiếp của lực cơ học.

• Phương pháp cấp cứu:
Đối với trường hợp gãy xương, giáo viên, huẩn luyện viên không thể chữa trị được mà chỉ làm công tác sơ cứu ban đầu để ngăn ngừa biến chứng gây ảnh hưởng xấu đến quá trình điều trị. Vì vậy khi nạn nhân bị gãy xương, ngay lập tức phải ủ ấm cho nạn nhân (Nếu trời rét) cố định xương và tuyệt đối không được để đầu xương gãy, xê dịch gây đau đớn và làm tổn thương các phần khác. Khi nẹp cần chú ý để nguyên chỗ gãy, không cởi quần áo nạn nhân và nẹp phải chắc chắn. Sau khi đã ổn địn thì chuyển nạn nhân đến cơ sở chuyên khoa.
❖ Gãy xương chân:
Xương chân có thể gãy dễ dàng nếu một lực tác động từ phía sau và bắp chân. Khi xương gãy cần dùng 2 nẹp dài từ háng đến gót chân, đặt nẹp dọc ở hai bên mắt cá chân và đệm nót bằng vải mềm, sau đó dùng dây buộc chặt lại, bất động khớp gối và đưa nạn nhân đến cơ sở y tế chuyên khoa.
Khi di chuyển tốt nhất nên cho nạn nhân nằm trên cán phẳng hoặc một tấm ván cứng có lót đệm ở dưới.
❖ Gãy xương tay:
Khi thực hiện sai các kỹ thuật chặn đỡ hoặc sau các đòn quăng quật mạnh, vận động viên có thể bị gãy tay và phần tay bị gãy thường là cẳng tay. Khi cấp cứu cũng thực hiện như trường hợp gãy chân và tay gãy phải được cố định bằng nẹp.

6. Cấp cứu khi bị sai khớp
Sai khớp (hay trật khớp) là sự sai lệch các diện khớp làm thay đổi vị trí thông thường và cản trờ hoạt động tự nhiên của khớp. Trong tập luyện và thi đấu, trật khớp thường hay xảy ra do tác động trực tiếp của ngoại lực hoặc sau các lần ngã, bị quăng quật. Các khớp hay bị trật là khớp vai, khớp khuỷ, khớp háng và khớp hàm
• Sai khớp vai:
Do có đặc điểm cấu tạo giải phẩu đặc biệt nên khớp vai là khớp rất dễ bị sai. Người bị trật khớp vai có thể được nhận biết qua dấu hiệu: Đau vai gây trở ngại cho hoạt động, mất chức năng hoạt động. Có dấu hiệu gù vai và chỏm xương cánh tay lồi ra ở trước hoặc sau. Khi sờ nắn thì thấy rất rõ vết mỏng cùng vai lõm xuống, khi ấn tay nạn nhân sát thân thì sẽ bị bật ra.
• Phương pháp phục khớp:
Dùng tay kéo tay sai từ từ và dần căng hết làm tụt lồi cầu của cánh tay xuống dưới hõm khớp đồng thời dùng lực bàn chân từ từ bẩy cánh tay sang bên hết sức và đưa cánh tay về phía bụng. Nhờ cơ denta và cơ sống vai chỏm xương sẽ được đưa từ từ vào ổ khớp. Sau khi đã phục khớp phải băng bó cố định bằng nẹp cứng đẻ cố định khớp 1 thời gian từ 2-3 tuần và sau 2 tháng thì có thể tập trở lại được
• Sai khớp khuỷ:
Sau khớp vai, chấn thương khớp khuỷ là loại hay gặp nhất trong tập luyện và thi đấu. sai khớp khuỷ cũng xảy ra hai trường hợp là sai khớp khuỷ phía trước và phía sau. Người bị sai khớp khuỷ thì khuỷu sưng to, cẳng tay như ngắn lại, đầu dưới xương cánh tay chồi lên và đặc biệt không thể gập duỗi khớp khuỷu được.
• Phương pháp phục khớp:
Khi phát hiện nạn nhân sai khớp khuỷu phải lập tức tiến hành phục khớp cho nạn nhaahn bằng cách: cho nạn nhân ngồi tựa lưng vào ghế hoặc vào tường, một người chính và một người phục vụ thực hiện. Người phục vụ hai tay năm lấy cánh tay người bị nạn giữ chặt, người chính để lòng bàn tay phải hoặc trái vào hỏm khớp khuỷu, tay còn lại nắm chặt cổ tay của nạn nhân. Sau đó người phục khớp chính duỗi thẳng tay, đưa ròng dọc xương cánh tay lên cao hơn so với mỏm vẹt và từ từ làm ddoobngj tác gấp khớp khuỷu để nhờ lực kéo của cơ đầu cánh tay kéo đưa ròng dọc vào ổ khớp rồi thực hiện bó bột để bất động khớp trong 3 tuần.

7. Giãn dây chằng
Giãn dây chằng cũng là chấn thương thường hay gặp trong tập luyện và thi đấu đặc biệt ở khớp cổ chân, khớp gối, khớp cổ tay. Sau tác động của một đòn va chạm vào khớp sẽ làm khớp vặn mạnh, khe khớp mở và các dây chằng căng giãn, nếu nặng có thể đứt hẳn gây tổn thương bao khớp và có thể chảy máu nhiều.
Khi bị giãn dây chằng nạn nhân sẽ bị đau ở khớp khi khớp ở trong trạng thái bình thường đồng thời sưng lên rất nhanh và giảm khả năng hoạt động khớp (vẫn gập duỗi được).

• Phương pháp sơ cứu ICER
− I viết tắt của nước đá (Ice). Cần làm lạnh chỗ chấn thương bằng nước lạnh hay túi đá trong 10-20 phút để làm giảm quá trình sưng viêm. Cần thực hiện chườm lạnh lập đi lập lại sau mỗi 4-6 tiếng. Các chỗ chấn thương phần mềm nên được chườm lạnh bằng cách dùng nước đá xoa nhẹ cho đến khi có cảm giác lạnh tê, thường thì khoảng 5 đến 10 phút. Không giữ nguyên cục đá ở một vị trí quá lâu vì có thể gay ra tê cóng và tổn hại lâu dài dến mô. Cần thận trọng khi sử dụng bình xịt lạnh, không nên lạm dụng vì có thể gây ra sự tê cóng chỗ chấn thương.
− C là chữ viết tắt của băng ép (Compression). Dùng băng cuốn băng ép vị trí chấn thương bằng hình thức phù hợp. Băng ép ngăn chặn hiện tượng sưng cũng như cố định phần chấn thương nhằm thúc đẩy nhanh hơn quá trình chữa trị.
− E đại diện cho nâng cao (Elevation). Nâng cao phần bị chấn thương sẽ hạn chế hiện tượng máu tụ về chỗ bị chấn thương, hạn chế hiện tượng sưng, chấn thương sẽ mau lành hơn.
− R đại diện cho nghỉ ngơi (Rét). Các chấn thương kể trên thường chỉ cần nghỉ ngơi hoàn toàn trung bình là 24 đến 48 giờ, thời gian nghỉ hoàn toàn sẽ kéo dài nếu chấn thương nặng. Các vận động viên phải tự đánh giá được khi nào chấn thương hoàn toàn bình phục. Đối với các trường hợp viêm gân, viêm bao hoạt dịch, càn đặc biệt chú trọng đến biện pháp băng ép và nghỉ ngơi hồi phục.
Khi tập luyện lại, nên chườm lạnh ngay trước và sau khi luyện tập. Vận động viên phải “lắng nghe cảm giác cơ thể” mình và trách thực hiện những kỹ thuật gây đau chỗ chấn thương. Vận động viên cũng cần hạn chế sử dụng chỗ chấn thương trong một thời gian, thí dụ, nếu mua bàn chân bị sưng bầm, cần tránh tập đá vào bao cát hay các bài tập song đấu nhằm tránh va chạm vào chỗ chấn thương cho đến khi mu bàn cghaan bình phục hoàn toàn, nếu không quá trình hồi phục sẽ kéo dài, thậm chí chấn thương có thể trở thành mãn tinh.

Các bài tập khởi động và căng cơ kỹ là rất ít và thúc đẩy nhanh quá trình hồi phục. Khi thực hiện các bài khởi động và căng cơ không nên gây đau ở các chấn thương.
Chườm lạnh ngay khi bị chấn thương và phải thực hiện trong vài ngày, nếu nặng và chảy máu phải lập tức tiến hành cầm máu và tiêu ngưng. Trong những ngày tiếp theo nếu ko sưng thêm thì có thể xoa bóp nhẹ nhành và chườm nóng hoặc ngâm nước muối (NaCl), băng ép bất động khớp trong một thời gian nhất định.

Lưu ý: không xoa bóp bằng dầu và thuốc xoa bóp bởi chúng có khả năng làm vôi hóa dây chằng,bao khớp và làm cứng ổ khớp

8. Chấn thương cột sống
Một đòn đá, đấm mạnh vào đầu,vai,lưng… có thể làm tổn thương cuộc sống và tùy thuộc vào diện tiếp xúc, cường độ lực tác động và vị trí của đòn mà mức độ tổn thương sẽ khác nhau như: dập thân đốt, gãy cung gai ngang, gai sau, tủy sống bị chèn ép, giãn dây chằng, chệch đĩa đệm… do chấn thương cột sống là rất nghiêm trọng nên nếu không thực hiện đúng phương pháp cấp cứu thì có thể dẫn đến tử vong .
*Phương pháp cấp cứu:
Khi vận động viên bị đánh đòn ngã mà không ngồi hoặc đứng dậy được thì đầu tiên phải coi như bị chấn thương cột sống và lập tức xử lý theo các bước sau:
Giữ nguyên tư thế ngã của nạn nhân và mời bác sĩ chuyên khoa để kiểm tra để kịp thời tiến hành cấp cứu.
Nếu không gập, duổi được hoặc mất cảm giác thì phải nghĩ ngay đến chấn thương cột sống và lúc này phải cố định tư thế ngã và đưa đi cơ sở y tế gần nhất.
9. Chấn thương tinh hoàn
Tinh hoàn là một trong những vị trí yếu nhất cơ thể cho nên nếu trực tiếp hay gián tiếp dính đòn thì lập tức sẽ bị chấn thương ngay, Nếu nhẹ sẽ gây đau buốt và nặng sẽ làm tinh hoàn bị lệch khỏi vị trí bình thường gây choáng ngất và thậm chí có thể dẫn đến tử vong.
*Phương pháp cấp cứu :
– Đối với chấn thương nhẹ có thể cho vận động viên nhảy nhẹ nhàng và bấm vào một số huyệt như Mệnh Môn, Thận Du và Dũng Tuyền.
– Đối với chấn thương nặng (tinh hoàn đã bị sai lệch vị trí) thì ngay lập tức dùng tay xốc nách đưa nạn nhân đứng thẳng dậy và cho rơi gót xuống.
Nếu nạn nhân không đứng được thì cho nạn nhân ngồi và người cấp cứu đứng sau hai tay xốc nách nhấc nạn nhân lên khỏi mặt đất khoảng 15-20cm và cho nạn nhân rơi tự do vài lần rồi kiểm tra tinh hoàn.
Trên đây là các chấn thương hay xảy ra nhất và các biện pháp cứu chữa hữu hiệu để ngẵn ngừa hậu quả xảy ra.
Huấn luyện viên, giáo viên và vận động viên phải thường xuyên bổ xung kiến thức về vấn đề này để ngăn ngừa chấn thương và nâng cao hiệu quả của quá trình huấn luyện

III. TẦM QUAN TRỌNG CỦA CÔNG TÁC PHÒNG NGỪA CHẤN THƯƠNG
Mục đích của thể dục thể thao là tăng cường sức khỏe, thể chất của người lao động, nâng cao thành tích thể thao, phục vụ tốt hơn cho sự nghiệp xây dựng và phục Môn phái ,trong tập luyện và thi đấu thể thao nếu như không coi trọng công tác đề phòng chấn thương, không tích cực sử dụng những biện pháp đề phòng tương ứng sẽ có thể xảy ra các chấn thương thể thao, ảnh thưởng rất lớn đến tập luyện và thi đấu . Nhưng nếu xảy ra chấn thương thì vận động viên phải nghỉ tập hoặc không thể tham gia tập luyện một cách bình thường , mà còn cản trở đến việc nâng cao thành tích thể thao, rút ngắn tuổi thọ thể thao của vận động viên, nếu bị nặng phải điều trị tại bệnh viện thì sẽ ảnh thưởng lớn kế hoạch huấn luyện hoặc bỏ nghề hay thậm chí còn dẫn đến tử vong và điều này đã hoàn toàn đi ngược lại với tôn chỉ và mục đích của việc tập luyện thể dục thể thao.
Bên cạnh đó việc đào tạo một vận động viên có đẳng cấp cao khó hơn rất nhiều so với đào tạo một cán bộ khoa học bởi vì đối với vận động viển yêu cầu vừa cần phải có sức khỏe, có năng khiếu thể thao , đồng thời thời gian đào tạo lại dài thường phải mất hàng chục năm và việc đào tạo đồi hỏi phải rất tốn kém, công phu.